Thứ Tư, 11 tháng 12, 2024

Cuộc gặp gỡ văn học giữa các nhà văn miền Bắc và miền Nam sau 1975

Trước 1975, do hoàn cảnh lịch sử chia cắt đất nước, nền văn học Việt Nam phát triển theo hai dòng chảy khác biệt. Miền Bắc gắn liền với văn học cách mạng, tập trung phản ánh tinh thần chiến đấu, xây dựng chủ nghĩa xã hội và lòng yêu nước của nhân dân trong công cuộc kháng chiến. Trong khi đó, văn học miền Nam lại phong phú, đa dạng về thể loại và chủ đề, phản ánh hiện thực đời sống, tâm trạng con người dưới ảnh hưởng của chiến tranh và những biến động xã hội.

Sau khi miền Nam được giải phóng, nhiều nhà văn miền Nam đã tiếp tục sáng tác và đóng góp cho nền văn học chung của đất nước, dù phải đối mặt với những khó khăn trong việc hòa nhập với môi trường mới. Còn các tác giả miền Bắc, trong khi đó, đã có một thời gian dài chịu ảnh hưởng của nền văn học xã hội chủ nghĩa và những nguyên tắc nghiêm ngặt về thể loại và nội dung. Một trong những sự kiện đáng chú ý là cuộc gặp gỡ giữa các nhà văn miền Bắc và miền Nam, đặc biệt là trong những năm đầu sau 1975, khi các nhà văn từ hai miền bắt đầu tiếp xúc, trao đổi và hợp tác. Cuộc gặp gỡ này không chỉ là sự giao thoa giữa hai nền văn học với những phong cách và tư tưởng khác nhau, mà còn là sự hòa nhập của các phong cách sáng tác, tư tưởng nghệ thuật giữa hai khu vực với những ảnh hưởng từ chiến tranh, sự đổi mới xã hội và các vấn đề về bản sắc dân tộc.

Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê – Là một tác phẩm nổi bật trong văn học Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ được sáng tác vào năm 1971, tác phẩm viết về chiến tranh và khắc hoạ chân thực cuộc sống và tâm hồn của những nữ thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn đầy hiểm nguy. Qua đó thể hiện sự kiên cường, nhưng cũng phản ánh sự đau thương và khốc liệt của cuộc chiến, nhà văn đã làm nổi bật tinh thần dũng cảm, tình đồng đội và vẻ đẹp tuổi trẻ trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt.
Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành – Mặc dù ra đời trước năm 1975, nhưng tác phẩm này được tiếp tục bàn luận và khai thác mạnh mẽ trong thời kỳ hậu chiến, nhất là về tính biểu tượng của người dân miền Nam trong cuộc chiến và sự hòa giải dân tộc. Trong tác phẩm nổi bật là hình ảnh của cây xà nu và người anh hùng Tnú, cây xà nu iểu tượng cho tinh thần bất khuất của con người Tây Nguyên và dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến, còn anh hùng Tnú là hiện thân của người dân làng Xô Man kiên cường, dũng cảm và quyết tâm trả thù cho gia đình, quê hương.

Cuộc gặp gỡ này không chỉ là sự giao lưu giữa các nhà văn, mà còn là một cuộc trao đổi quan trọng về tư tưởng và phương pháp sáng tác. Các nhà văn miền Nam, với những trải nghiệm chiến tranh khác biệt, đã mang đến những cái nhìn mới mẻ, những cảm xúc và giá trị nhân văn sâu sắc, góp phần làm phong phú thêm văn học Việt Nam thời kỳ hậu chiến.

Cuộc gặp gỡ văn học giữa các nhà văn miền Bắc và miền Nam sau 1975 thực sự đã trở thành biểu tượng của sự hòa hợp dân tộc, là minh chứng cho sức mạnh gắn kết của văn hóa và nghệ thuật. Nó không chỉ hàn gắn những vết thương chiến tranh mà còn tạo động lực cho một nền văn học thống nhất, đa dạng, phản ánh chân thực và sinh động hiện thực đất nước. Văn học giai đoạn này chính là cầu nối đưa con người Việt Nam xích lại gần nhau hơn, cùng nhau bước vào kỷ nguyên xây dựng và phát triển đất nước.

Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Tâm 

 

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2024

Giới thiệu phim "Người trở về" - Chuyển thể từ tác phẩm "Người ở bến sông Châu"

 

Nguồn: https://vnexpress.net/nguoi-tro-ve-phim-hau-chien-lay-nuoc-mat-nguoi-xem-3271148.html

Người trở về là một bộ phim được chuyển thể từ tác phẩm nổi tiếng Người ở bến sông Châu, một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam sau 1975 của nhà văn Sương Nguyệt Minh. Bộ phim không chỉ mang đến những cảnh quay ấn tượng mà còn phản ánh sâu sắc những vấn đề xã hội, nhân văn trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình.

Tác phẩm "Người ở bến sông Châu" và giá trị văn hóa

Người ở bến sông Châu là một trong những tác phẩm nổi bật của văn học Việt Nam sau 1975, được viết bởi nhà văn Sương Nguyệt Minh. Tác phẩm xoay quanh Câu chuyện tập trung kể về nỗi đau của một người phụ nữ thời kỳ hậu chiến tranh, người yêu đi lấy vợ, mang trong mình thương tật, nỗi mất mát đồng đội, đó là cô y tá Mây dũng cảm. Bên cạnh đó, dấu vết chiến tranh cũng in hằn lên số phận của những con người khác dù không trực tiếp ở chiến trường như thím Ba. Cùng với đó là sự ngợi ca, trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của những con người dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Tác phẩm được đánh giá cao bởi khả năng khắc họa những chiều sâu tâm lý nhân vật, đặc biệt là những người phụ nữ, những người mang trong mình những nỗi niềm chưa thể bày tỏ. Chính vì vậy, việc chuyển thể tác phẩm này lên màn ảnh được xem là một thử thách lớn, khi phải giữ được cái hồn của tác phẩm nguyên tác, đồng thời truyền tải được những thông điệp sâu sắc về cuộc sống, con người.



Bộ phim "Người trở về"

Bộ phim Người trở về của đạo diễn Đặng Thái Huyền; Kịch bản: Nguyễn Thu Dung; Quay phim Trịnh Quang Tùng - Tống Văn Đức được chuyển thể từ truyện ngắn “Người về bến sông Châu” của nhà văn Sương Nguyệt Minh kể về cuộc đời của một nữ quân nhân trở về sau chiến tranh với biết bao khó khăn của cuộc sống đời thường. Bộ phim là dự án được đầu tư với quy mô lớn nhất từ trước tới nay của Điện ảnh Quân đội. Người trở về xoay quanh câu chuyện thời hậu chiến, một năm sau ngày giải phóng, Mây khoác ba lô trở về bến sông Châu với niềm vui đoàn tụ gia đình và gặp lại San – mối tình thề hẹn trước ngày ra trận. Trớ trêu thay, ngày Mây về lại là ngày cưới của San, đồng thời gia đình cũng đang chuẩn bị làm đám giỗ khi nhận được giấy báo tử của cô tròn một năm trước. Không muốn thêm một người phụ nữ nữa đau khổ, Mây từ chối ý định “cùng nhau làm lại từ đầu” của San. Không chỉ hàng ngày chứng kiến hạnh phúc gia đình mà Thanh – vợ San cố phô bày; sự dằn vặt, dùng dằng của người yêu cũ mà những vết thương, sự ám ảnh chiến tranh, sự hy sinh của đồng đội cũng hiện về đêm đêm ám ảnh Mây trong từng giấc ngủ. Để tránh khó xử cho cả ba người, Mây rời nhà ra bến đò, sống cô độc, cho đến ngày Quang tìm về tận bến sông Châu tìm cô. Người lính trinh sát miền Nam ở chiến trường năm ấy, vì những cơ duyên nơi chiến trận, đã rong ruổi khắp nơi tìm cô y tá ngày nào chỉ với một địa chỉ mơ hồ “ở bến sông Châu”. Quang nguyện ở lại, dùng tấm chân tình, yêu thương, chăm sóc cô suốt cuộc đời này. Nước chảy thì đá cũng mòn, nhưng ngày Mây quyết định lấy Quang cũng là ngày cô biết được sự thật: vết thương thời chiến đã lấy mất đi khả năng làm mẹ. Không muốn Quang phải chịu thiệt thòi, Mây hắt hủi, xa lánh Quang và nói dối rằng, cô vẫn còn yêu San tha thiết. Vào một đêm mưa bão, vợ San đẻ khó và Mây là người cứu cánh đỡ đẻ cho mẹ tròn con vuông. Cũng một đêm mưa gió, cám cảnh phận đời mình, Mây ra bến sông, bỏ làng, thả thuyền trôi theo dòng sông Châu vô định. Và trong mù mịt gió mưa, Quang xuất hiện, băng qua dòng nước lũ để tới được thuyền Mây. Cả hai cùng con thuyền trôi xuôi về dưới hạ nguồn…


Nguồn: https://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/chieu-mien-phi-phim-nguoi-tro-ve-tai-tp-hcm-20151012215448291.htm

Tình tiết phim xoay quanh hành trình trở về của nhân vật chính, những mối quan hệ phức tạp trong gia đình, tình yêu và những quyết định khó khăn trong cuộc đời. Đặc biệt, nhân vật nữ chính – một người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, đau khổ vì chiến tranh và mất mát – là hình mẫu tiêu biểu cho những nỗi niềm thầm lặng của những người phụ nữ Việt Nam trong những năm tháng ấy.

Sự chuyển thể và thông điệp phim


Nguồn: https://www.sggp.org.vn/phim-nguoi-tro-ve-goc-nhin-moi-ve-chien-tranh-post353205.html

Điểm đặc biệt của bộ phim là sự chuyển thể rất tinh tế từ văn học sang điện ảnh. Các nhân vật trong phim vẫn giữ nguyên những đặc trưng tâm lý, với những nội tâm phức tạp, những suy tư, trăn trở về cuộc sống, tình yêu và trách nhiệm. Một trong những thông điệp quan trọng mà bộ phim muốn truyền tải là việc mỗi con người đều phải đối mặt với quá khứ của mình để có thể bước tiếp. Bộ phim không chỉ là một câu chuyện về tình yêu, mà còn là câu chuyện về sự trưởng thành, về những hối hận, sự tha thứ và niềm hy vọng vào tương lai.

Bên cạnh đó, phim còn thể hiện sự trân trọng đối với những giá trị truyền thống, đặc biệt là những mối quan hệ gia đình, tình làng nghĩa xóm trong xã hội Việt Nam. Thông qua đó, Người trở về gửi gắm thông điệp về sức mạnh của tình người và sự kiên cường, vươn lên trong hoàn cảnh khó khăn.

Kết luận

Người trở về là một bộ phim đầy xúc cảm, khắc họa rõ nét cuộc sống và con người Việt Nam trong giai đoạn hậu chiến. Với sự chuyển thể xuất sắc từ tác phẩm văn học, bộ phim đã thành công trong việc giữ được cái hồn của nguyên tác, đồng thời làm nổi bật những vấn đề xã hội và nhân văn sâu sắc. Đây là một tác phẩm điện ảnh không thể bỏ qua đối với những ai yêu thích những câu chuyện mang đậm tính nhân văn và giàu cảm xúc. Phim có thể tạo ra một không gian xúc động, kết hợp giữa những cảnh quay đầy cảm xúc nhưng cũng rất đời thường, khiến khán giả không chỉ chứng kiến hành trình của nhân vật mà còn tự hỏi về hành trình của chính mình trong cuộc sống. Những thông điệp về gia đình, sự mất mát và khát vọng trở về sẽ khiến người xem suy ngẫm về giá trị của tình yêu, của sự hy sinh, và sự hiểu biết.

Tóm lại, bộ phim của Đặng Thái Huyền không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật mà còn là một hành trình truyền tải thông điệp nhân văn sâu sắc về tình cảm con người, sự quay về, và sự khám phá bản thân qua các mối quan hệ.

Tác giả: Nguyễn Thị Linh Phương; Lâm Ngọc Thảo

Sự suy thoái đạo đức và thức tỉnh con người trong “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp

 


Có thể thấy rằng, văn học Việt Nam đang ngày càng phát triển và giữ một chỗ đứng quan trọng trong việc phản ánh văn hóa nước nhà. Văn học tái hiện lại cuộc sống, đưa cuộc sống vào văn chương để thông qua những trang viết giúp người đọc có cái nhìn đa chiều về thực tại. Giữa muôn vàn thể loại sáng tác, truyện ngắn với dung lượng “nhỏ bé” nhưng lại gặt hái được những thành tựu hết sức “phi thường”.

Nguyễn Huy Thiệp là cây bút rất thành công khi khai thác triệt để đặc trưng loại hình này. Bằng giọng văn lạnh lùng kết hợp với lối viết giàu chất hiện thực, nhà văn đã tái hiện lại bức tranh đời sống xã hội một cách bình dị nhưng hết sức tinh tế: ở đó có đổ vỡ, có xung đột nhưng cũng nồng nàn khát vọng được sống, được đổi thay. Nguyễn Huy Thiệp đã cho chúng ta thấy được một cái gì đó mới mẻ, không bị chê là “Điều này chúng tôi biết rồi, chẳng cần nói nữa”. Ở sáng tác của ông, không còn là sự xuất phát từ cái đẹp của nghệ thuật văn chương nữa mà là toát ra từ chính cuộc sống, thế giới quan trong nhà văn. Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện làm thay đổi nền không khí của văn học Việt Nam


Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện sau năm 1975 dường như đã thay đổi và tạo ra bước ngoặt lớn cho văn chương Việt Nam, biết bao bạn đọc tìm đến tác phẩm của ông mà say sưa, mê mẩn. Không có vua, câu chuyện xoay quanh cuộc sống của một gia đình gồm nhiều thành viên có hoàn cảnh và nghề nghiệp khác nhau. Chủ gia đình là ông Kiền, người đã mất vợ. Có cô Sinh - con dâu, 4 anh em gồm Cấn - anh trưởng làm nghề hớt tóc và ráy tai; Đoài - công chức giáo dục hay bỡn cợt; Khiêm - người mổ lợn thô lỗ; Khảm - sinh viên đại học sôi nổi. Cuối cùng là Tốn - người bị thiểu năng.

Mỗi nhân vật trong Không có vua được Nguyễn Huy Thiệp miêu tả chi tiết qua từng nét vẽ, tạo nên một bức tranh gia đình siêu thực và cay nghiệt. Tác phẩm thu nhỏ lại bức tranh trật tự xã hội lỏng lẻo, thiếu sự gắn kết, chỉ “bằng mặt mà không bằng lòng” với sự ganh ghét và đố kị của từng thành viên trong gia đình. Không ai được coi là ông “vua” chính danh uy quyền để chế ngự lòng ham muốn cao ngất của các thành viên máu mủ ruột rà trong gia đình.


Nhà văn đã khai thác tính cách của từng nhân vật hoàn toàn trái ngược so với nghề nghiệp hay trình độ học vấn cũng như vị trí của họ để tạo ra cái nhìn đa chiều về bản chất con người trong xã hội. Xã hội không chỉ có những thứ tốt đẹp, cao cả mà còn luôn tồn tại những điều xấu xa được che giấu dưới lớp vỏ hoa lệ. Ở đây nhà văn nêu lên một lời cảnh tỉnh về hiện thực trong xã hội.

   Nguyễn Huy Thiệp, ngôn từ lạnh lùng và có phần thô tục được sử dụng để khai quật tận cùng những chủ đề gây tranh cãi trong xã hội. Nó cho ta cái nhìn rõ hơn vào một xã hội đã suy thoái vì tiền bạc và các giá trị sai trái khác. Tác phẩm mang thông điệp rõ ràng: Xã hội đó không đáng để sống. Nó gợi mở một cuộc cách mạng nhằm thay đổi suy nghĩ của con người, để họ có thể tìm ra giá trị và ý nghĩa thực sự trong cuộc sống.


Tác giả: Nguyễn Thị Phương Thảo 



 


Những cách tân nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

 

Giai đoạn sau năm 1975 đã chứng kiến một làn sóng đổi mới mạnh mẽ và sáng tạo trong văn xuôi Việt Nam. Những cách tân này nổi bật ở tư duy nghệ thuật, quan niệm về con người, thể tài và phương thức thể hiện. Quan niệm nghệ thuật về con người chuyển từ cái nhìn tập thể và lịch sử sang cái nhìn cá nhân và đời tư, giúp văn xuôi trở nên gần gũi và chân thực hơn, mang đến nhiều tầng nghĩa và cảm xúc. Tư duy nghệ thuật cũng thay đổi từ lối viết sử thi ca ngợi sang phân tích, chiêm nghiệm và suy tư, khám phá các khía cạnh đời thường, bi kịch cá nhân và mối quan hệ xã hội phức tạp. Sự đa dạng về thể tài và phong phú trong phương thức thể hiện đã tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao và thu hút độc giả, đánh dấu một giai đoạn phát triển độc lập và quan trọng trong văn học Việt Nam hiện đại.

Vậy sự phát triển của văn xuôi sau năm 1975 diễn ra như thế nào? Những đổi mới và điểm sáng ra sao? Đây là thời kỳ mà văn xuôi Việt Nam trải qua nhiều chuyển biến mạnh mẽ, từ tư duy nghệ thuật, quan niệm về con người đến thể tài và phương thức thể hiện. Các nhà văn đã không ngừng tìm kiếm và thử nghiệm cách viết mới, mở rộng phạm vi đề tài, tập trung vào những khía cạnh đa chiều của cuộc sống và con người, tạo nên những tác phẩm giá trị nghệ thuật cao và sâu sắc. Sự đổi mới này không chỉ làm phong phú nền văn học Việt Nam mà còn khẳng định văn xuôi sau năm 1975 như một giai đoạn phát triển độc lập và đáng chú ý trong lịch sử văn học nước nhà.


Nhìn vào giai đoạn sau 1975, chúng ta thấy văn xuôi chia thành hai thời kỳ. Thời kỳ đầu, từ 1975 đến đầu những năm 1980, tuy có một số thay đổi như mở rộng chủ đề và bao quát nhiều vấn đề hơn, nhưng về cơ bản vẫn mang đặc điểm của văn xuôi trước đó. Tư duy nghệ thuật ở thời kỳ này vẫn chịu ảnh hưởng lớn của cảm hứng sử thi. Những tác phẩm đáng chú ý trong giai đoạn này bao gồm: Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải, Năm 75 họ đã sống như thế của Nguyễn Trí Huân, Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy, Nắng đồng bằng của Chu Lai, và Miền cháy của Nguyễn Minh Châu.


Từ những năm 80 trở đi, văn xuôi Việt Nam mới thực sự có những bước chuyển đáng kể. Trước hết là sự tự đổi mới của các nhà văn đã có nhiều tác phẩm vững vàng từ trước. Các tác giả như Nguyễn Minh Châu, Bùi Hiển, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Ma Văn Kháng, Xuân Thiều, Nguyễn Trọng Oánh, và Lê Lựu bắt đầu thể hiện sự đổi mới không chỉ trong đề tài và vấn đề, mà còn trong tư duy nghệ thuật, cảm hứng và cách viết. Nếu như trước đây Lê Lựu viết Người về đồng cói và Mở rừng, thì giai đoạn này ông cho ra đời Thời xa vắng. Ma Văn Kháng từ Xa phủ chuyển sang Mùa lá rụng trong vườn và Đám cưới không có giấy giá thú. Nguyễn Quang Sáng từ Chiếc lược ngà, Mùa gió chướng và Chị Nhung chuyển sang Tôi thích làm vua và Thế võ. Sự đổi mới này là tất yếu trước một hiện thực và công chúng mới. Trong số các nhà văn đổi mới, Nguyễn Minh Châu nổi bật với sự sáng tạo sớm trong những trang viết của mình. Ngay từ sau 1975 và đầu thập niên 80, ông đã có các tác phẩm như Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bức tranh, Bến quê, Mẹ con chị Hằng và sau đó là Mảnh đất tình yêu, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Cỏ lau. Những tác phẩm này thể hiện một tư duy nghệ thuật khác biệt, phân tích và lý giải nhiều vấn đề quan trọng trong xã hội.
Đặc biệt, với sự xuất hiện của những cây bút trẻ, diện mạo văn xuôi đã có sự thay đổi đáng kể. Các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh và nhiều tác giả khác đã mang đến những sắc thái mới mẻ cho văn xuôi Việt Nam. Dù có thể có những ý kiến tranh luận và phê phán về một số khía cạnh trong tác phẩm của họ, nhưng không thể phủ nhận những đóng góp và đổi mới mà
họ đã mang lại trong giai đoạn này. Các sáng tác của họ thể hiện sự đa dạng về chủ đề và cách tiếp cận, mang đến cái nhìn mới mẻ về cuộc sống và con người Việt Nam. Ví dụ, Nguyễn Huy Thiệp nổi bật với những tác phẩm mang tính phản biện xã hội, như Tướng về hưu và Con gái thủy thần. Nguyễn Quang Lập và Tạ Duy Anh cũng có nhiều tác phẩm gây tiếng vang, thể hiện sự sáng tạo và tầm nhìn sâu rộng của họ.

Sau khi nhìn lướt qua tình hình văn xuôi sau 1975 (chủ yếu tập trung vào tiểu thuyết, truyện ngắn và truyện vừa; còn thể loại ký sẽ được đề cập trong một bài khác), chúng ta có thể nhận thấy một số đặc điểm nổi bật phản ánh bước phát triển của văn xuôi giai đoạn này. Văn xuôi Việt Nam sau 1975 đã không ngừng đổi mới và phát triển, đáp ứng nhu cầu và kỳ vọng của độc giả, đồng thời góp phần tạo nên diện mạo đa dạng và phong phú cho văn học nước nhà. Những sáng tác mới mẻ, sáng tạo này đã góp phần làm thay đổi bộ mặt văn xuôi, tạo nên những làn gió mới mẻ và thu hút sự quan tâm của độc giả. Văn xuôi giai đoạn này không chỉ mang tính giải trí mà còn phản ánh sâu sắc những vấn đề xã hội, tâm lý và văn hóa, từ đó góp phần nâng cao nhận thức và sự hiểu biết của người đọc về cuộc sống và con người.

     Trước hết, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự phát triển của văn xuôi sau năm 1975 rõ rệt trên phương diện tư duy nghệ thuật. Văn xuôi đã chuyển dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết. Điều này không ám chỉ sự đối lập giữa hai loại tư duy về mặt giá trị. Có những đề tài mà tư duy sử thi phù hợp hơn, và ngược lại, tư duy tiểu thuyết có thể mang lại giá trị cao hơn cho những đề tài khác. Điểm mấu chốt là sự tương thích giữa đề tài và nội dung thể loại. Trước năm 1975, văn xuôi của chúng ta chủ yếu mang tính chất sử thi, và cách tiếp cận này phù hợp với đối tượng và cảm hứng mà nó phản ánh. Văn xuôi thời kỳ này đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị, điều đã được khẳng định rộng rãi mà không cần phải bàn cãi thêm. Sau năm 1975, hiện thực đời sống đã thay đổi đáng kể, đòi hỏi một cách tiếp cận mới mẻ và phù hợp hơn. Điều này yêu cầu sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật. Quá trình đổi mới này gặp nhiều khó khăn và thách thức, nhưng tư duy nghệ thuật đã dần chuyển sang hướng tiểu thuyết, phù hợp với đối tượng phản ánh. Đây là một quá trình tất yếu trong sự phát triển của văn học.

Tư duy tiểu thuyết thực tế không phải là yếu tố xa lạ trong văn xuôi trước đây. Trong giai đoạn 1930-1945, đặc biệt với văn xuôi hiện thực phê phán, tư duy này đã có một vị trí quan trọng. Tuy nhiên, trong văn học cách mạng từ 1945 đến 1975, do các tác phẩm tập trung vào những vấn đề lớn của dân tộc và cách mạng, tư duy sử thi đã trở thành chủ đạo. Hoàng Ngọc Hiến từng nhận xét rằng trong văn xuôi Việt Nam, tư duy tiểu thuyết chỉ thỉnh thoảng xuất hiện trong một số tác phẩm đơn lẻ như Cha và con, và... của Nguyễn Khải hay Thời xa vắng của Lê Lựu, còn tư duy sử thi vẫn chiếm ưu thế. Sau năm 1975, đặc biệt từ thập niên 1980, quá trình chuyển từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết trở nên rõ nét hơn. Hiện thực đời sống đã thay đổi, đòi hỏi một cách tiếp cận mới và phù hợp. Điều này đòi hỏi sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn. Sự chuyển biến này không diễn ra dễ dàng mà đầy thử thách, nhưng nó là một quá trình tất yếu trong sự phát triển của văn học. Tư duy nghệ thuật bắt đầu hướng sang tiểu thuyết, phù hợp với đối tượng phản ánh. Quá trình này diễn ra trong cả các nhà văn đã được khẳng định tên tuổi và những nhà văn mới xuất hiện. Các tác phẩm như Tâm tưởng của Bùi Hiển, Gió từ miền cát của Xuân Thiều, Sống với thời gian hai chiều của Vũ Tú Nam... bắt đầu cho thấy cách tiếp cận khác biệt. Trong những tác phẩm này, khôngchỉ có sự ngợi ca mà còn có sự phân tích và lý giải các hiện tượng hiện thực.

 Nếu trước đây, cách nhìn chủ yếu là đơn diện, phân biệt rõ ràng giữa thiện và ác, địch và ta, cao cả và thấp hèn, thì nay đã trở nên đa diện và phức tạp hơn. Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn nổi bật với sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật. Ngay từ sau năm 1975 và đặc biệt trong thập niên 1980, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm mang tính dự báo về những biến đổi của xã hội, như Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bức tranh, Bến quê, Mẹ con chị Hằng và sau này là Mảnh đất tình yêu, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Cỏ lau. Những tác phẩm này đã cho thấy một kiểu tư duy nghệ thuật khác biệt, đặt ra và giải quyết nhiều vấn đề có tầm bao quát lớn. Với sự xuất hiện của những cây bút trẻ như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh, văn xuôi Việt Nam giai đoạn này đã được thổi vào một luồng gió mới. Những tác phẩm của họ mang đến những sắc thái mới mẻ và tạo nên diện mạo mới cho văn xuôi. Mặc dù có thể có những ý kiến trái chiều về nội dung hay phong cách viết, nhưng không thể phủ nhận rằng họ đã góp phần làm thay đổi và phát triển văn học Việt Nam trong giai đoạn này. Vì vậy, nhìn chung, quá trình chuyển từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết là một bước ngoặt quan trọng, phản ánh sự phát triển và đổi mới không ngừng của văn xuôi Việt Nam sau năm 1975.

Khi nhắc đến các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, và đặc biệt là lớp nhà văn trẻ sau năm 1975, ta thấy rằng cách tiếp cận bằng tư duy tiểu thuyết đã thực sự chiếm vị trí quan trọng và trở nên thuyết phục trong việc nắm bắt và lý giải hiện thực. Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu xuất hiện sau năm 1975 đã gây ra nhiều tranh luận sôi nổi. Nhiều người cho rằng ông đã “xa đề tài trung tâm”, rằng trong sáng tác của ông “chủ đề không rõ ràng”, và rằng những nhân vật mà ông đề cập là “dị thường”, “không có trong hiện thực”. Tuy nhiên, thực tế là Nguyễn Minh Châu đã tiếp cận hiện thực theo một cách khác, với tư duy tiểu thuyết nghiêng về khía cạnh đời tư và đời sống cá nhân phức tạp. Ông không chỉ dừng lại ở những chủ đề chiến đấu và xây dựng mà còn đề cập đến những vấn đề nhân sinh rộng lớn hơn. Cách tiếp cận này mới mẻ và sâu sắc, khiến nhiều người không quen với phong cách cũ dễ dàng từ chối. Ví dụ, trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, mặc dù đề tài về một ngư phủ trong sương là quen thuộc, nhưng Nguyễn Minh Châu đã khéo léo ẩn chứa trong đó nỗi đau của số phận con người, những cay đắng, nhục nhã, và nhọc nhằn mà họ phải chấp nhận. Hay trong Bức tranh, chân dung người chiến sĩ có thể mang lại giải thưởng quốc tế cho người họa sĩ, nhưng cũng có thể vì nó mà bao bà mẹ trở thành mù lòa vì khóc con. Đó là nỗi ân hận day dứt suốt đời của người họa sĩ đã từng nhận giải thưởng quốc tế. Đằng sau chân dung người chiến thắng, ẩn chứa nỗi đau của các bà mẹ. Sự đa chiều trong cách nhìn hiện thực trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đã làm cho các tác phẩm của ông trở nên sâu sắc và đậm chất triết lý. Những tác phẩm này không chỉ đơn giản là ngợi ca, mà còn là sự phân tích, lý giải các hiện tượng của hiện thực từ nhiều góc độ khác nhau. Lớp nhà văn trẻ sau năm 1975 như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh đã góp phần tạo nên diện mạo mới cho văn xuôi Việt Nam. Các tác phẩm của họ mang đến những sắc thái mới mẻ và đầy sáng tạo. Dù có thể gây ra tranh cãi và phê phán, nhưng không thể phủ nhận rằng họ đã mang lại sự đổi mới quan trọng trong văn học giai đoạn này. Quá trình chuyển từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết là một bước ngoặt quan trọng, phản ánh sự phát triển và đổi mới không ngừng của văn xuôi Việt Nam sau năm 1975. Đây là một quá trình tất yếu, đáp ứng nhu cầu và kỳ vọng của độc giả, đồng thời góp phần làm phong phú thêm văn học nước nhà.

 Đặc biệt, sự xuất hiện của những cây bút trẻ đã làm thay đổi diện mạo của văn xuôi thời kỳ này, nổi bật nhất là Nguyễn Huy Thiệp. Trong văn xuôi đương đại Việt Nam, chưa có tác giả nào vừa xuất hiện mà lại gây tranh luận dữ dội như Nguyễn Huy Thiệp. Những người khen cũng như người chê anh đều phải công nhận rằng anh có tài. Nguyễn Kiên đã nhận xét: "những người chê anh dữ dội cũng công nhận anh có tài". Nguyễn Huy Thiệp được đánh giá cao bởi ông đã thay đổi hoàn toàn cách viết và cách tư duy trong truyện ngắn, và mở rộng hơn là trong văn xuôi. Lối tư duy tiểu thuyết, vốn đã được Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu khai phá, đã được Nguyễn Huy Thiệp phát triển đến tầm cao mới. Văn xuôi Việt Nam, như Hoàng Ngọc Hiến nhận định, trước đây chủ yếu là kể lại nội dung chứ chưa phải viết lại nội dung. Với văn xuôi kể lại nội dung, câu hỏi đặt ra là kể cái gì? Còn với văn xuôi viết lại nội dung, câu hỏi đặt ra là kể như thế nào? Văn xuôi kể lại nội dung có xu hướng giống văn đưa tin, loại văn này luôn có độc giả của nó. Nếu thông tin mang ý nghĩa giáo huấn, nó sẽ được đánh giá cao vì cần thiết, có ích, kịp thời. Nếu là tin tức lạ lẫm, giật gân, nó sẽ thu hút sự yêu thích rộng rãi của công chúng. Trong văn xuôi viết lại nội dung, sự kết hợp giữa "viết cái gì" và "viết như thế nào" tạo ra sức căng cho câu văn, làm cho văn có giọng, có hồn. Văn xuôi của Nguyễn Huy Thiệp, cũng như của Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, thuộc loại "viết lại nội dung". Ở họ, không chỉ việc nêu vấn đề quan trọng mà cả cách nêu vấn đề cũng đáng chú ý. Điều này tạo ra những tác phẩm mang tính đa nghĩa, nhiều tầng lớp. Những người quen với văn xuôi đơn nghĩa sẽ thấy khó hiểu và rối rắm khi đọc loại văn xuôi này. Không ngạc nhiên khi những tranh luận về Nguyễn Huy Thiệp thường bao gồm nhiều bài viết về cách đọc truyện ngắn của ông. Ví dụ, với Tướng về hưu, Nguyễn Huy Thiệp không chỉ kể về người anh hùng trong cuộc sống thường nhật, mà thông qua hình tượng vị tướng, tác giả đã đề cập đến những nội dung khác như sự suy thoái đạo đức, quan niệm về con người và cuộc đời, và các chuẩn mực sống cần được xem xét lại. Những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp thể hiện cách nhìn hiện thực đa chiều, mang đến chiều sâu và phong phú cho văn xuôi Việt Nam. Các cây bút trẻ như Nguyễn Huy Thiệp đã góp phần làm thay đổi diện mạo và phát triển văn học Việt Nam trong thời kỳ này, đưa văn xuôi lên một tầm cao mới với những sáng tạo và cách tiếp cận khác biệt.

Phải thừa nhận rằng tư duy tiểu thuyết đã ngày càng trở nên đắc dụng và chiếm ưu thế trong văn xuôi sau năm 1975, đặc biệt là trong thể loại truyện ngắn. Nhà văn Nguyên Ngọc đã có một nhận định chính xác khi cho rằng một số truyện ngắn gần đây, như Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh,... thậm chí còn mang tính chất tiểu thuyết hơn cả những tác phẩm được gắn nhãn tiểu thuyết. Sự chuyển biến này có thể thấy rõ qua cách các nhà văn sử dụng tư duy tiểu thuyết để khai thác sâu hơn vào những khía cạnh phức tạp của hiện thực đời sống, đưa ra những góc nhìn đa chiều và nhiều tầng lớp về các vấn đề xã hội và con người. Nguyễn Minh Châu, với Phiên chợ Giát, đã tạo ra một không gian truyện ngắn vừa mang đậm chất đời thường, vừa thấm đượm tính triết lý. Còn Nguyễn Huy Thiệp, qua các truyện ngắn của mình, đã mở rộng cách nhìn nhận và tiếp cận hiện thực bằng sự sắc sảo và tỉnh táo. Tạ Duy Anh, với Bước qua lời nguyền, cũng không chỉ dừng lại ở việc kể chuyện mà còn phân tích sâu xa các hiện tượng xã hội và tâm lý con người. Điều này chứng tỏ rằng, tư duy tiểu thuyết không chỉ là công cụ để kể lại những câu chuyện đơn giản, mà còn là một phương tiện hữu hiệu để các nhà văn truyền tải những suy tư sâu sắc, phân tích và lý giải các vấn đề phức tạp của cuộc sống. Nó giúp cho văn xuôi trở nên phong phú, đa dạng và có chiều sâu hơn, đồng thời đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của độc giả về sự tinh tế và sáng tạo trong nghệ thuật kể chuyện. Nhờ vào sự đổi mới này, văn xuôi sau năm 1975 đã ghi nhận nhiều thành tựu đáng kể, không chỉ về mặt nội dung mà còn về hình thức thể hiện, mang đến cho độc giả những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao và ý nghĩa sâu sắc.

     Sự đổi mới về tư duy nghệ thuật trong văn xuôi tất yếu dẫn đến thay đổi nhiều yếu tố cấu thành như bút pháp, nhân vật trung tâm, hệ vấn đề, cốt truyện, hệ đề tài, và lời văn. Sau năm 1975, bút pháp văn xuôi đã có sự chuyển biến rõ rệt so với trước đây. Nhà văn Bùi Hiển đã nhận xét rằng văn xuôi hiện đại mang một phong cách trầm tĩnh hơn, tỉnh táo hơn, bớt đi vẻ say sưa nồng nhiệt so với những tác phẩm viết về cách mạng và kháng chiến trước đó. Văn xuôi hiện đại tạo ra một khoảng cách nhất định với đối tượng miêu tả, do đó, nó bình thản hơn, trí tuệ hơn và thấm đẫm giọng điệu phê phán, bình giá. Cách tiếp cận này thiên về bề sâu tâm tưởng và ý nghĩa nhân sinh, nhưng không vì thế mà trở nên lạnh lùng khô héo; ngược lại, qua giọng điệu và lời văn, ta vẫn cảm nhận được hơi ấm nhân tình. Những gì Bùi Hiển nêu lên về bút pháp như sự trầm tĩnh, tỉnh táo hơn và giọng điệu phê phán, bình giá thực chất là kết quả của tư duy tiểu thuyết và cách tiếp cận tiểu thuyết đối với hiện thực. Cũng như giọng hào hùng của văn chương một thời là kết quả của cảm hứng sử thi và tư duy sử thi, bút pháp hiện đại phản ánh một sự thay đổi căn bản trong cách nhìn nhận và miêu tả thực tế. Các yếu tố như nhân vật trung tâm, hệ vấn đề, và cốt truyện cũng thay đổi. Nhân vật trung tâm trong văn xuôi hiện đại thường là những con người đời thường với những suy tư, trăn trở về cuộc sống và nhân sinh. Hệ vấn đề được mở rộng, không chỉ dừng lại ở những cuộc chiến đấu hay công cuộc xây dựng, mà còn đề cập đến những khía cạnh đời sống cá nhân và xã hội đa chiều hơn. Cốt truyện cũng trở nên phức tạp và đa dạng, phản ánh sự phong phú và đa sắc của đời sống hiện thực. Nhìn chung, sự đổi mới tư duy nghệ thuật đã tạo ra một diện mạo mới cho văn xuôi sau năm 1975, với những sáng tác mang tính trí tuệ, giàu triết lý và gần gũi với con người hơn. Điều này không chỉ làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam mà còn góp phần tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật và ý nghĩa sâu sắc.

Sự thay đổi trong tư duy nghệ thuật đã dẫn đến nhiều biến đổi khác nhau trong các yếu tố cấu trúc của văn xuôi, chẳng hạn như bút pháp, nhân vật trung tâm, hệ vấn đề, cốt truyện, hệ đề tài và lời văn. Để minh họa, hãy xem xét kỹ hơn về sự thay đổi thể tài - một bước tiến quan trọng của văn xuôi sau năm 1975. Trong giai đoạn 1945 - 1975, thể tài lịch sử - dân tộc chiếm ưu thế, quyết định toàn bộ diện mạo thể tài và hệ thống thể loại của văn xuôi. Văn xuôi thời kỳ này có tham vọng trở thành bức tranh hoành tráng về lịch sử dân tộc, nhằm tôn vinh những chiến công và sự hy sinh vì lý tưởng cao đẹp. Do đó, thể tài đời tư và thể tài đạo đức - thế sự chỉ giữ vai trò phụ trợ, ít được chú trọng. Mặc dù yếu tố đời tư không hoàn toàn vắng bóng trong văn xuôi giai đoạn này, nhưng nó thường bị chi phối và phụ thuộc vào thể tài lịch sử - dân tộc. Những câu chuyện về sự đổi đời nhờ cách mạng, sự trưởng thành trong gian khó, hay những hy sinh vì việc chung... thường xuyên xuất hiện, nhưng chúng thường trở thành yếu tố phụ thuộc, không phát triển độc lập. Sau năm 1975, hiện thực cuộc sống thay đổi, đòi hỏi văn xuôi cũng phải điều chỉnh để phù hợp với thời đại mới. Quá trình đổi mới này không hề dễ dàng, nhưng rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu mới. Văn xuôi sau năm 1975 bắt đầu chú trọng hơn đến thể tài đời tư và thể tài đạo đức - thế sự. Những câu chuyện về cuộc sống cá nhân, về khía cạnh đời thường, và những vấn đề đạo đức xã hội dần trở nên phổ biến và phát triển độc lập. Các tác phẩm như Họ cùng thời với những ai của Thái Bá Lợi, Gió từ miền cát của Xuân Thiều, và Không phải trò đùa của Khuất Quang Thụy đều thể hiện rõ sự thay đổi này. Thay vì chỉ tập trung vào chiến công và hy sinh, các tác phẩm này chú trọng đến số phận cá nhân và những bi kịch riêng tư trong bối cảnh chiến tranh và đời sống hiện thực. Những tác phẩm này đã đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của văn xuôi Việt Nam, mang lại một diện mạo mới, phản ánh chân thực và sâu sắc hơn về cuộc sống và con người. Sự đổi mới về thể tài đã góp phần làm phong phú và đa dạng thêm cho nền văn học Việt Nam, mang đến cho độc giả những tác phẩm có giá trị nghệ thuật và ý nghĩa sâu sắc.

     Khác với giai đoạn trước, văn xuôi sau năm 1975 chứng kiến sự bùng nổ của thể tài đời tư và thể tài đạo đức - thế sự, dần trở thành trọng tâm của văn học thời kỳ này. Nhiều tác giả và tác phẩm nổi bật trong thể tài này có thể kể đến như Nguyễn Khải với Cha và con, và..., Giữa cõi nhân gian bé tí; Nguyễn Minh Châu với Bức tranh, Bến quê, Khách ở quê ra; Vũ Huy Anh với Cuộc đời bên ngoài; Vũ Tú Nam với Sống với thời gian hai chiều; Lê Lựu với Thời xa vắng; Dương Thu Hương với Những bông bần li, Ngôi nhà trên cát; Bùi Hiển với Tâm tưởng; Xuân Thiều với Gió từ miền cát, Người mẹ tội lỗi; Nguyễn Huy Thiệp với các truyện ngắn trong Tướng về hưu; Nguyễn Quang Lập với Một giờ trước lúc rạng sáng, Những mảnh đời đen trắng; Phạm Thị Hoài với Mê lộ, Thiên sứ; Ma Văn Kháng với Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú; Trần Văn Tuấn với Ngày thứ bảy u ám, Ngày không giờ.

Việc phát triển thể tài đạo đức - thế sự và đời tư trong văn chương đã cho phép khám phá sâu hơn vào từng ngõ ngách của tâm hồn con người và suy ngẫm kỹ lưỡng về các trạng thái nhân thế. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh xã hội chuyển từ chiến tranh ba mươi năm sang một cuộc sống hòa bình với nhiều phức tạp và thử thách. Những con người bình dị, đời thường được miêu tả với sự chân thực và chiều sâu. Nhiều truyện ngắn, truyện vừa và cả tiểu thuyết đã tập trung vào những số phận bất hạnh và bi kịch của họ. Đó là bi kịch của những con người phải hy sinh bản thân để hướng tới tập thể một cách cứng nhắc, dẫn đến những thất bại đau đớn suốt đời như trong Thời xa vắng. Đó là bi kịch của những người chênh vênh giữa danh vọng và tình yêu, với những tính toán ích kỷ và thiếu trách nhiệm, cuối cùng chỉ nhận lại ảo ảnh như trong Bên kia bờ ảo vọng. Và còn những bi kịch của sự ân hận, dằn vặt vì những lỗi lầm vô tình hay cố ý gây ra như trong Con ăn cắp và Bức tranh. Trong văn xuôi sau 1975, có một xu hướng rõ ràng là tái nhận thức lại một thời kỳ đã qua. Có người xem đó là "thời xa vắng", có người gọi đó là "thời lãng mạn", lại có người cho đó là "thiên đường mù". Dù các nhận định này còn cần bàn thêm, nhưng cách nhìn nhận hiện thực này đã làm cho văn xuôi có chiều sâu hơn, phân tích kỹ lưỡng và mang tính triết lý hơn. Đây là những phẩm chất mà văn xuôi trước đây còn thiếu. Văn xuôi sử thi, với sự giàu có về chất thơ và tráng ca, thường ca ngợi vẻ đẹp của con người và xã hội trên bình diện lịch sử - dân tộc, nhưng lại thiếu sự phân tích và lý giải sâu xa. Ngược lại, văn xuôi đạo đức - thế sự đầy những nếm trải, suy tư và chiêm nghiệm, khai phá và mổ xẻ các hiện tượng để đi đến tận cùng bản chất của chúng.

Văn xuôi thế sự và đời tư đã phần nào thỏa mãn nhu cầu phân tích, lý giải và suy ngẫm về con người và xã hội trong giai đoạn đầy biến động. Đây không chỉ là bước phát triển quan trọng mà còn là sự đổi mới cần thiết của văn xuôi, giúp nó phản ánh chân thực và sâu sắc hơn về hiện thực và đối tượng miêu tả. Văn xuôi sau năm 1975 đã chứng kiến sự thay đổi lớn khi các tác giả tập trung vào những khía cạnh đời tư và thế sự của con người, qua đó tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật và xã hội cao. Nhờ sự chuyển mình này, văn xuôi Việt Nam đã ghi nhận những thành tựu đáng kể, góp phần nâng cao vị thế của văn học nước nhà trong lòng bạn đọc. Sự đổi mới này đã mang lại một diện mạo mới cho văn xuôi, giúp nó trở nên đa dạng, phong phú và sâu sắc hơn. Những tác phẩm này không chỉ tập trung vào những sự kiện lớn lao, mà còn đi sâu vào tâm hồn con người, khám phá những cảm xúc và suy tư phức tạp, tạo nên những trang viết đầy tính nhân văn và triết lý. Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp văn xuôi sau năm 1975 đạt được những thành công và ghi dấu ấn mạnh mẽ trong lòng độc giả.

     Sự phát triển của tư duy nghệ thuật, thể tài, bút pháp, giọng điệu và lời văn trong văn xuôi và văn học nói chung đều xuất phát từ sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người. Chỉ khi quan niệm này thay đổi, các phương tiện thể hiện mới có thể biến đổi một cách toàn diện, còn không thì chỉ là những thay đổi nhỏ lẻ và cục bộ. Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học cách mạng đã thoát khỏi cái nhìn bế tắc, hướng tới việc con người làm chủ vận mệnh của đất nước, dân tộc và chính mình. Những nhân vật trong văn học nhiều năm qua thường được khắc họa là những con người lạc quan, dù gặp muôn vàn khó khăn nhưng cuối cùng vẫn chiến thắng. Họ luôn quên mình vì sự nghiệp chung, vì nghĩa lớn, vì tập thể, đầy ý chí và nghị lực, tận tụy vì Tổ quốc, nhân dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Văn xuôi trong thời kỳ kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội đều tuân theo quy luật này.

Trong văn xuôi sau năm 1975, quan niệm nghệ thuật về con người đã dần chuyển hướng sang tập trung vào cá nhân và số phận riêng tư. Điều này không có nghĩa là quay lại với con người cá nhân chủ nghĩa từng bị phê phán. Khi Thời xa vắng ra đời, một số người đã nhận xét: “Hình như trong xã hội ta, cá nhân đang dần hình thành”. Văn xuôi thời kỳ này đã chuyển từ việc miêu tả các hình tượng tập thể sang xây dựng những nhân vật có cá tính và số phận riêng, tạo nên những nhân cách đầy đặn và phong phú. Ở giai đoạn này, văn xuôi không chỉ xây dựng các nhân vật với ý chí cách mạng mà còn thể hiện các tính cách phong phú trong mối quan hệ đa chiều của con người. Nhân vật không còn chỉ là ý niệm mà trở thành những nhân cách thực sự. Ma Văn Kháng đã viết: “Phải chăm lo cho từng người. Cá tính mãi mãi tồn tại và đòi hỏi được quan tâm”. Nhân vật cá nhân đã trở thành đối tượng thẩm mỹ quan trọng của văn học đương đại.

Xu hướng chú trọng đến cá nhân thể hiện rõ nét trong nhiều tác phẩm sau năm 1975. Nguyễn Minh Châu khắc họa những con người sám hối và đầy suy tư dằn vặt trong truyện ngắn của mình. Nguyễn Huy Thiệp tạo ra những nhân vật cô đơn và cay đắng, còn Nguyễn Quang Lập miêu tả những con người vừa anh hùng vừa hèn hạ. Những thanh sắc khác nhau này đã tạo nên một diện mạo đa dạng và hấp dẫn cho văn xuôi thời kỳ này. Nếu trong văn xuôi sử thi, con người được miêu tả rõ ràng tốt xấu, thì ở giai đoạn này, con người được xem xét trong toàn bộ sự phức tạp của họ. Những nhân vật từng được coi là anh hùng có thể phạm sai lầm và ân hận suốt đời, như trong Đò ơi của Nguyễn Quang Lập. Nhân vật Trương Chi trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp khát khao tình yêu nhưng cũng chạy theo danh vọng, kết thúc bằng sự tuyệt vọng. Lý trong Mùa lá rụng trong vườn dù sống xô bồ nhưng vẫn gây cảm thương và quý trọng. Văn xuôi sau năm 1975 đã mở rộng tầm nhìn về con người, mang đến một cái nhìn đa chiều và phức tạp. Các nhà nghiên cứu và phê bình văn học đánh giá cao văn xuôi giai đoạn này, coi đó là “đời hơn” và “thực hơn”.

Văn học và văn xuôi nói riêng đã trải qua một hành trình dài trên con đường khám phá con người bằng nghệ thuật. Từ việc gạt bỏ con người cá nhân chủ nghĩa trước cách mạng, văn học cách mạng đã nhận thức con người như một chủ thể lịch sử, và con người tập thể trở thành trọng tâm của văn học giai đoạn 1945 – 1975. Sau năm 1975, văn xuôi trở lại với con người cá nhân nhưng ở một cấp độ phát triển cao hơn, không phải kiểu con người cá nhân chủ nghĩa mà là những nhân cách phức hợp. Sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người đã dẫn đến việc thay đổi toàn diện trong hệ thống miêu tả, phương thức thể hiện và tư duy, tạo nên bước phát triển đáng kể cho văn xuôi sau năm 1975.

Có thể khẳng định rằng giai đoạn sau năm 1975 là một thời kỳ đổi mới mạnh mẽ và đầy sáng tạo của văn xuôi Việt Nam. Các cách tân đổi mới đã thể hiện rõ ràng qua nhiều khía cạnh, từ quan niệm nghệ thuật về con người, tư duy nghệ thuật, thể tài cho đến phương thức thể hiện. Trước tiên, sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người đã chuyển từ cái nhìn tập thể và lịch sử sang cái nhìn về cá nhân và đời tư. Các nhà văn bắt đầu khắc họa những số phận cá nhân đầy phức tạp, phản ánh sâu sắc tâm hồn và cuộc sống nội tâm của con người. Điều này đã giúp văn xuôi trở nên chân thực và gần gũi hơn với độc giả, đồng thời mang đến nhiều tầng nghĩa và cảm xúc. Tư duy nghệ thuật cũng có sự thay đổi rõ rệt, từ lối viết mang tính sử thi ca ngợi chuyển sang lối viết phân tích, chiêm nghiệm và suy tư. Các nhà văn không chỉ miêu tả những câu chuyện về chiến tranh và cách mạng mà còn khám phá những khía cạnh đời thường, những bi kịch cá nhân và mối quan hệ xã hội phức tạp. Thể tài của văn xuôi cũng mở rộng đa dạng hơn. Không chỉ dừng lại ở các câu chuyện về lịch sử và cách mạng, các nhà văn đã khai thác cả những câu chuyện đời tư, đạo đức và thế sự. Những tác phẩm như Thời xa vắng của Lê Lựu, Bức tranh của Nguyễn Minh Châu và Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp đã đánh dấu sự đổi mới này. Phương thức thể hiện cũng phong phú và đa dạng hơn. Các tác phẩm văn xuôi không chỉ miêu tả trực tiếp mà còn sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật tinh tế để khắc họa tâm trạng và suy nghĩ của nhân vật. Nhờ đó, văn xuôi Việt Nam sau 1975 đã ghi nhận những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao và hấp dẫn độc giả.

     Tóm lại, những cách tân đổi mới này không chỉ chứng minh sự phát triển mạnh mẽ của văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 mà còn khẳng định đây là một giai đoạn độc lập và quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Văn xuôi sau 1975 đã trở thành một hiện tượng đáng chú ý, góp phần làm phong phú và đa dạng thêm cho nền văn học Việt Nam, mang đến cho độc giả những tác phẩm giàu tính nghệ thuật và nhân văn.

 Tác giả: Đặng Thị Quỳnh Nga

Nghiên cứu cảm quan nghệ thuật trong văn xuôi đương đại Việt Nam sau 1975


Nguồn: https://arttimes.vn/van-tho/tieu-thuyet-duong-dai-viet-nam-c55a45164.html 

Sau năm 1975, văn học Việt Nam bước sang một thời kỳ mới với sự bùng nổ của văn xuôi. Văn xuôi đã trở thành trung tâm của dòng chảy văn học, đồng thời cũng là một lĩnh vực nghiên cứu rất sôi động ở thời điểm này. Các tác giả đã có những đổi mới mạnh mẽ về tư tưởng và nghệ thuật, thể hiện rõ nét qua các tác phẩm xuất bản. Sự phát triển của văn xuôi đã phản ánh những thay đổi sâu sắc trong xã hội, văn hóa và con người Việt Nam. Nền văn học Việt Nam đã thay đổi đáng kể từ trước đến nay và hiện tại. Văn xuôi đã thể hiện sức mạnh to lớn về việc phản ánh và tái hiện xã hội trong thời kỳ chuyển đổi này. Các tác giả đã sử dụng ngôn ngữ và nghệ thuật để diễn tả những thay đổi này, giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản chất của xã hội và con người Việt Nam. Sự đổi mới của văn học Việt Nam sau năm 1975 thể hiện rõ nét trong văn xuôi, và việc nắm bắt được đặc trưng của văn xuôi thời kỳ này đòi hỏi phải nghiên cứu hệ thống thẩm mỹ mới của nó.

Văn xuôi sau 1975 sở hữu những đặc trưng mới mẻ, đòi hỏi phải có một hướng nghiên cứu mới để tiếp cận những cảm quan nghệ thuật của văn xuôi này. Để hiểu và đánh giá được bản chất đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975, cần phải đa dạng hóa khái niệm và phạm trù lý thuyết thẩm mĩ vốn đã được định hình từ lâu. Cảm quan được coi là một thuật ngữ mỹ học được hình thành trên cơ sở ngôn ngữ học, triết học và tâm lý học, và nó là vật liệu cơ bản đầu tiên của các loại hình nghệ thuật khác nhau. Nghệ thuật là hoạt động tạo ra các hình thức biểu tượng của cảm quan con người, và nó đồng dạng với các hình thức năng động, trực tiếp của đời sống tình cảm, tinh thần.

Tác phẩm nghệ thuật là cảm quan dự báo về cuộc sống, và trong đó, cảm quan được ẩn giấu (và vén mở) trong ẩn dụ, biểu tượng, huyền thoại. Cấu trúc tác phẩm nghệ thuật tồn tại như một trật tự ẩn, chỉ có một số khía cạnh nhất định của trật tự ấy lộ diện hoặc mỗi khía cảnh lại lộ diện ở mỗi thời điểm nhất định như mỗi chúng ta cảm nhận khác nhau. Khi nghiên cứu văn xuôi sau 1975, cần phải xem xét Cảm quan như một phần quan trọng trong cấu trúc tác phẩm nghệ thuật, và nó đòi hỏi phải có một tiếp cận mới để đánh giá và khái quát bản chất đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975. Yếu tố Cảm quan trong văn xuôi sau 1975 không chỉ thể hiện qua hình ảnh và nội dung mà còn qua cách viết và ngôn ngữ, và nó đòi hỏi phải có một hiểu biết sâu sắc về ngôn ngữ học và mỹ học để đánh giá và phân tích. Cảm quan trong văn xuôi sau 1975 cũng thể hiện qua cách nghệ sĩ sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh để tạo ra một thế giới mới, một thế giới mà trong đó cảm quan được ẩn giấu (và vén mở) trong ẩn dụ, biểu tượng, huyền thoại.

Cảm quan nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam đã trải qua sự đổi mới mạnh mẽ về tư tưởng và nội dung. Sau năm 1975, văn xuôi đã tập trung vào các chủ đề nhân đạo, hòa bình và phê phán xã hội. Các tác phẩm văn học đã không chỉ phản ánh hiện thực mà còn hướng tới mục tiêu xây dựng một xã hội ấm no, hạnh phúc. Một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện tư tưởng nhân đạo và hòa bình là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. 

Nỗi Buồn Chiến Tranh là câu chuyện khắc họa lại cuộc đời đầy đau thương, bất hạnh của những mảnh đời khác nhau trong chiến tranh. Trái ngược với những cuốn tiểu thuyết lịch sử, luôn miêu tả chiến tranh với nét anh dũng, hào hùng, Nỗi Buồn Chiến Tranh chủ yếu đi sâu vào đời sống nội tâm của con người thời chiến. Những người chiến sĩ, sau giờ phút cầm súng chiến đấu gan dạ, họ cũng là con người bình thường, những người trẻ tuổi còn mang trong mình hoài bão, tình yêu nhưng vì hoàn cảnh khiến họ bắt buộc phải gieo mình trong làn mưa bom bão đạn. Những mẩu truyện đời thường tưởng chừng vụn vặt nhưng lại ẩn chứa cả một bài học nhân sinh sâu sắc. Câu chuyện tình giữa nhân vật chính của truyện là người chiến sĩ Kiên cùng với Phương, Hiền hay chị Hạnh hẳn đã thể hiện cái nét “con người” nhất trong họ. Dù là người lính đang phải sống giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, họ vẫn yêu và mong được yêu nồng cháy, hết mình. Và vì là con người, nên họ cũng phải biết sợ hãi, run rẩy trước sự tàn bạo của quân thù. Điều ấy khiến cho việc cả sư đoàn của Kiên dùng cây hoa hồng ma như là thuốc phiện, để tạm quên đi nỗi đau, nỗi sợ và sự chán nản cũng trở nên thường tình, dễ hiểu. Câu chuyện ma quái rùng rợn, tiếng thét, tiếng hú phát ra từ khu rừng được cho là của những người lính bỏ mạng trên chiến trận được đồn đi khắp các tiểu đội dường như đã khiến tâm trạng của họ ngày càng tệ hại hơn, tất cả nhưng đang rơi vào hố sâu tuyệt vọng và buồn đau. Ta không thể trách những người như Can, vì sợ hãi và thương mẹ già đau ốm một mình không ai chăm nom nên đã mạnh bạo quyết định đào ngũ. Thế nhưng cuối cùng, người ta vẫn tìm được Can trong bộ dạng thảm thương, chỉ còn là cái xác với hốc mắt sâu hoắm... Nhìn chiến tranh dưới góc độ cá nhân, Thời kỳ văn học nghệ thuật thời chiến, Bảo Ninh làm nên điểm đặc biệt cho tác phẩm nhìn dưới góc độ lịch sử, chọn một góc hào quang từ những con người lịch sử trong chiến tranh. Họ tiệm cận hiện thực thời chiến khi văn học nghệ thuật không còn chịu sự gò bó, kiểm soát khắt khe như trước. Trải qua những đau thương, mất mát mà chiến tranh để lại khắp thân thể, đất nước, con người nhìn nhận được thực tế, thấu hiểu, đau đớn cho những nỗi đau chìm ẩn, càng lớn càng xót xa.

 

 Chiến tranh không nên được miêu tả một cách trực tiếp như một sự kiện hoặc một trận chiến. Thay vào đó, nó nên được mô tả thông qua kinh nghiệm và cảm xúc của những người lính trực tiếp tham gia vào cuộc chiến. Thật sự thì chiến tranh là một hiện thực vô cùng khắc nghiệt và đau đớn. Nó bao gồm bóng tối, khói, lửa, tiếng súng, tiếng kêu buồn và nỗi đau chết người. Sự hiện diện của máu không thể nào quên được và nó để lại ảnh hưởng sâu sắc đến tâm hồn của những người lính. Chiến tranh không chỉ gây ra nỗi đau và nỗi ám ảnh cho những người lính, mà còn ảnh hưởng đến gia đình và bạn bè của họ. Những người ở lại phải chịu đựng nỗi đau và nỗi lo lắng không thể giải tỏa. Họ không thể nào quên đi nỗi đau, tình huynh đệ và tình yêu thương bị hy sinh trong chiến tranh. Hoà bình là điều mà những người lính luôn khao khát, nhưng khi đất nước đã hoà bình, họ lại phải đối mặt với nỗi đau và nỗi ám ảnh trong lòng. Họ phải chứng kiến những người đồng đội đã không còn nguyên vẹn và bản thân không thể làm gì để cứu họ. Hoà bình chắc chắn là tốt đẹp hơn chiến tranh, nhưng nó cũng không thể giải quyết được nỗi đau và nỗi lo lắng của những người lính.


Song hành với những bi kịch cuộc đời ấy, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp hoạ nên con người luôn mang nỗi buồn cô đơn về tinh thần. Con người cũ cô độc giữa thời đại mới. Là một thực thể sống, chỉ có họ mới biết đến sự cô đơn, và họ chỉ có thể cảm nhận được sự cô đơn trong một nhóm. Nói cách khác, ở đâu có sự cô đơn thì luôn có mối quan hệ tách khỏi nhóm và ở lại một mình. Những mối quan hệ thất lạc trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 thường xuất phát từ những khác biệt, mang theo những sắc thái cô đơn, mất mát. Sau năm 1986, toàn bộ bản chất con người đã được bộc lộ. Lúc này, sự tồn tại của cá nhân được khám phá sâu sắc hơn và rơi vào trạng thái cô độc. Và nỗi cô đơn cũng có những phạm trù, tức là con người cô đơn, con người cô đơn. Còn hình tượng ông Thuận trong Tướng về hưu là một ví dụ cô đơn. Lúc này, con người rơi vào trạng thái cô đơn thụ động, bị đẩy vào một môi trường xa lạ, lạc lõng.                             

Các tác phẩm: Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu; Bến không chồng của Dương Hướng; Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư; Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường đều phản ánh hình ảnh cho những người ở thế hệ trước với tư tưởng và lối sống truyền thống, đang cảm thấy lạc lõng và cô độc trong bối cảnh xã hội thay đổi nhanh chóng của thời đại hiện đại. Đây là một chủ đề phổ biến trong văn xuôi sau 1975, phản ánh những khúc mắc và xung đột nội tâm khi con người đối diện với sự biến động của xã hội và sự mất cân bằng giữa giá trị cũ và mới.


Đó là sự va chạm giữa giá trị truyền thống và hiện đại: Những người thuộc thế hệ trước, đã quen thuộc với những giá trị, phong tục, và lối sống truyền thống, thường cảm thấy lạc lõng khi đối diện với những thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại. Sự va chạm này không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần, khiến họ cảm thấy bị cô lập và không thể hòa nhập. Trong Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, các nhân vật chính cảm thấy khó khăn khi hòa nhập với cuộc sống bình thường sau chiến tranh, bởi vì họ đã quen thuộc với những giá trị và tình cảm gắn bó trong môi trường quân ngũ.Đó là tâm lý cô đơn và lạc lõng khi "con người cũ" thường mang trong mình một nỗi cô đơn sâu sắc, vì họ không còn cảm thấy thuộc về thời đại mới. Họ phải đối diện với sự mất mát của những giá trị cũ và nỗi nhớ về quá khứ, trong khi không tìm thấy sự kết nối với những giá trị mới. Trong Bến không chồng của Dương Hướng, các nhân vật như phụ nữ và người lớn tuổi cảm thấy lạc lõng và cô đơn khi xã hội nông thôn thay đổi nhanh chóng sau chiến tranh, khiến họ không thể thích nghi kịp. Đó là sự đối lập giữa các thế hệ. Sự khác biệt lớn giữa các thế hệ trong việc nhận thức và ứng xử với xã hội mới cũng là một điểm nhấn quan trọng. Các nhân vật thuộc thế hệ cũ thường bị đặt vào tình huống xung đột với con cháu mình, những người dễ dàng chấp nhận và thích nghi với thay đổi. Trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, sự đối lập giữa cha con, giữa các thế hệ, thể hiện rõ ràng qua cách họ nhìn nhận về cuộc sống và giá trị. Cảm qua phản ánh hiện thực xã hội và nỗi đau của sự thay đổi. Văn xuôi sau 1975 thường mang tính phản ánh chân thực về những khó khăn và nỗi đau của xã hội khi chuyển mình. Những con người cũ đứng trước sự thay đổi không ngừng của thời đại mới, cảm thấy bị bỏ lại phía sau và mang theo nỗi đau của những mất mát không thể bù đắp. Trong nhiều tác phẩm, sự phản ánh này không chỉ dừng lại ở mức độ cá nhân mà còn là sự phê phán sâu sắc về những biến đổi xã hội, làm nổi bật nỗi đau và cô độc của những con người không còn tìm thấy vị trí của mình trong xã hội mới.

Những yếu tố này không chỉ giúp làm rõ hơn về hình ảnh con người "cũ cô độc giữa thời đại mới" mà còn tạo nên những câu chuyện đầy tính nhân văn và sâu sắc trong văn xuôi Việt Nam sau 1975.              

Nguồn: https://www.phunuonline.com.vn/van-hoc-viet-nam-sau-1975-chung-ta-la-ai-o-dau-a1429220.html

Những gương mặt chưa đầy đủ của văn học Việt Nam sau năm 1975: Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Ma Văn Kháng, Dương Kiều Minh, Trần Anh Thái, Lê Minh Khuê, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Quang Thiều, Trần Quang Quý. Họ xuất phát từ thực tiễn văn học và nhu cầu nhìn nhận và đánh giá một cách toàn diện, có không ít cuộc đánh giá. Văn học sau 1975 thực chất là sự tiếp nối của văn học chiến tranh ở một tầm cao hơn, không còn mang tính chất tuyên truyền mà là sự tìm hiểu sâu hơn về thân phận con người, về người lính trong chiến tranh, những vấn đề thời hậu chiến... từ một góc nhìn khác, gần gũi hơn với bản chất văn học. Nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận giá trị của văn học chiến tranh. Văn học chiến tranh được sản xuất trong một thời kỳ đặc biệt nên rất cần thiết. Đó là dòng suối nhiều nhánh chạm đến số phận con người Việt Nam một cách sâu sắc và trọn vẹn hơn. Tính cá nhân hoá mạnh mẽ, sự đổi mới về nghệ thuật về ngôn ngữ văn học, hình ảnh mang tính nghệ thuật và cảt kết cấu bố cục được chú ý.

Văn xuôi sau 1975 thể hiện rõ nét cái tôi cá nhân của các tác giả, tạo nên sự đa dạng và chiều sâu cho tác phẩm, cũng như chân thực và xúc động sâu sắc qua những câu chuyện hư cấu nhưng phản ánh những biến cố và cảm xúc thật của tác giả. Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là một tác phẩm mang những suy tư cá nhân về những nghịch lý và bi kịch trong cuộc sống. Tác phẩm thường mang tính triết lý và suy tư sâu sắc về cuộc sống, con người và xã hội, tự do sáng tạo và thể hiện phong cách riêng của mình. Văn xuôi sau 1975 không bị giới hạn bởi những quy tắc cố định, làm cho các tác phẩm trở nên phong phú về mặt ngôn ngữ và cấu trúc. Sự đổi mới ấy khi một số nhà văn tập trung vào nội tâm và tâm lý nhân vật, giúp người đọc hiểu rõ hơn về động cơ và cảm xúc của từng nhân vật. Một người Hà Nội của Nguyễn Khải là một tác phẩm tập trung khắc họa tâm lý và suy tư của nhân vật chính về những thay đổi của xã hội Hà Nội qua các thời kỳ. Văn xuôi nghệ thuật pha trộn giữa hiện thực và hư cấu, tạo nên một bức tranh đa chiều và phong phú về cuộc sống. Những tác phẩm như Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, kể về những con người thật, sự kiện thật trong bối cảnh chiến tranh nhưng lại được hư cấu hóa để tăng tính nghệ thuật và truyền tải thông điệp sâu sắc hơn. Tính văn xuôi nghệ thuật của các tác phẩm sau 1975 còn được thể hiện qua sự dụng ngôn ngữ và cấu trúc độc đáo, tạo nên một không gian nghệ thuật phong phú và đa chiều. Những tác giả đã sử dụng ngôn ngữ và cấu trúc để thể hiện sự phong phú và đa dạng về mặt cảm xúc và ý tưởng. Văn xuôi sau 1975 cũng thể hiện sự đổi mới về mặt phong cách, khi một số tác giả đã sử dụng các phong cách viết mới như hậu hiện thực, hiện thực chính trị và lãng mạn để thể hiện sự phong phú và đa dạng về mặt cảm xúc và ý tưởng. Những tác phẩm này đã tạo nên một không gian văn hóa phong phú và đa chiều, thể hiện sự phong phú và đa dạng của văn hóa Việt Nam.

 

Từ sự phân tích lịch sử ý thức văn hóa của văn học cách mạng Việt Nam sau 1945, Trân Đình Sử nhận định : "Trong thời kì đổi mới, xây dựng đất nước trong điêu kiện hòa bình, mở rộng giao lưu, kinh tế thị trường các giá trị cộng đông dân tộc vẫn còn nguyên ý nghĩa. Nhưng mặt khác hệ thống giá trị của văn học cách mạng thời kì qua không còn đáp ứng đầy đủ nhu cầu văn hoa mở rộng đa dạng của thời bình. Ông cho rằng "văn học sau 1975, nhất là sau 1987 có một sự bùng nổ về ý thức cá tính nhằm lập lại thế cân bằng giữa ý thức cá nhân và ý thức cộng đồng. Sự tiến bộ của văn học là một quá trình không ngừng làm giàu mói lờn những phẩm chất mới, không ngừng khơi sâu, mở rộng thêm quan niệm về con người và hiện thực.". Văn xuôi sau 1975 dưới góc nhìn quan điểm cảm quan nghệ thuật để cập khá nhiều về khuynh hướng đổi mới so sánh với văn xuôi trước 1975. Chính sự giao thoa hiện thực thể hiện cái tôi cá nhân, những dấu ấn cá nhân đưa các tác phẩm văn xuôi trở nên rộng mở các đề tài, mỗi nhà văn sẽ chuẩn bị cho cao trào đổi mới ấy. Ta sẽ thấy nhiều nhà văn mạnh dạn khi đi sau vào những vấn đề gai góc phản ánh những vấn đề của cuộc sống, con người ở thời điểm chiến tranh để khai thác tâm lý, tính cách như “Miền cháy – Nguyễn Minh Châu

 Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán sau 1975. "Miền cháy" không chỉ tái hiện những khó khăn, thử thách mà con người phải đối mặt trong thời kỳ sau chiến tranh, mà còn phê phán sâu sắc những bất công, xung đột xã hội và sự mất mát, đau khổ của con người.

Tác phẩm đi sâu vào nội tâm và tâm lý của nhân vật, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về những suy tư, trăn trở, và cảm xúc phức tạp của họ. Nhân vật trong Miền cháy không chỉ là những người đấu tranh với hoàn cảnh bên ngoài, mà còn đối mặt với những xung đột nội tâm mãnh liệt. Nguyễn Minh Châu sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh và mang đậm tính biểu tượng. Cách viết của ông tạo nên những bức tranh sống động, vừa chân thực vừa đầy nghệ thuật, khiến người đọc có thể cảm nhận được không chỉ qua câu chữ mà còn qua hình ảnh, âm thanh và cảm xúc.

Miền cháy tái hiện chân thực bối cảnh xã hội Việt Nam sau chiến tranh, với những khó khăn, thách thức của công cuộc tái thiết đất nước. Tác phẩm không ngần ngại phơi bày những mảng tối của xã hội, từ đó kêu gọi sự thấu hiểu và đồng cảm. Nguyễn Minh Châu có khả năng mô tả chi tiết, tinh tế những cảnh đời thường, từ đó tạo nên một tác phẩm không chỉ mang tính nghệ thuật cao mà còn rất gần gũi và dễ cảm nhận đối với người đọc.

 Tổng thể, Miền cháy không chỉ là một tác phẩm văn học xuất sắc mà còn là một bức tranh chân thực, sâu sắc về cuộc sống và con người Việt Nam trong giai đoạn đầy biến động sau chiến tranh.  


Nghệ thuật cảm quan của các tác giả sau năm 1975 được mở rộng, họ làm nên những thành tựu cho riêng họ, làm nên những cá thể kể lại những chiêm nghiêm bản thân chứng kiến trải qua, diễn ra, họ hoá thân mình vào nhân vật trong truyện, họ kể một cách chân thật, vừa thân tình vừa hóm hỉnh nhưng khẳng định được những giá trị của triết lý. Họ có cách nhìn đa chiều và sâu sắc đối với các nhân vật và sự việc diễn biến trong thời cuộc. Họ là người kể chuyện xưng “ tôi” là người khám phá tính cách, lối sống của mảnh đất kinh kỳ của những nét đẹp riêng trong Một người Hà Nội – Nguyễn Khải.

Phản ánh chân thực xã hội tác phẩm mô tả chi tiết cuộc sống của người dân Hà Nội qua nhiều thời kỳ, từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Mỹ đến thời kỳ đổi mới. Nguyễn Khải đã khắc họa rõ nét những thay đổi, biến động của xã hội và con người. Phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu sắc tác giả không chỉ phản ánh mà còn phê phán một cách tinh tế những bất cập trong xã hội, những thay đổi khiến con người cảm thấy lạc lõng. Nguyễn Khải xây dựng nhân vật tinh tế về nhân vật chính là Bà Hiền, một người phụ nữ Hà Nội điển hình, được khắc họa với những phẩm chất truyền thống nhưng cũng rất hiện đại. Bà Hiền thể hiện sự dung hòa giữa nét đẹp truyền thống và sự thích nghi với xã hội mới và cả nhân vật phụ: Mỗi nhân vật phụ đều mang một nét đặc trưng riêng, tạo nên một bức tranh đa sắc về xã hội Hà Nội. Từ những người trong gia đình bà Hiền đến những người hàng xóm, tất cả đều góp phần làm nổi bật bối cảnh và câu chuyện chính.


Phong cách kể chuyện tự nhiên, gần gũi với những câu chuyện đời thường nhưng lại rất sâu sắc và đầy ý nghĩa. Tác giả kết hợp khéo léo giữa hiện thực và hư cấu, tạo nên một câu chuyện vừa chân thực vừa mang tính nghệ thuật cao. Qua hình ảnh bà Hiền và những nhân vật khác, Nguyễn Khải đã thể hiện sự kiên cường, vượt khó của con người Hà Nội trước những biến động của thời cuộc. Tác phẩm đặt ra vấn đề về việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống trong bối cảnh xã hội hiện đại hóa. Một người Hà Nội không chỉ là một câu chuyện về con người và cuộc sống Hà Nội, mà còn là một tác phẩm nghệ thuật tinh tế, sâu sắc, mang đậm dấu ấn cá nhân của Nguyễn Khải.

Quan niệm nghệ thuật về con người được coi là sự đổi mới quan trọng nhất của văn học cách mạng, thoát khỏi quan niệm cứng nhắc về con người, hướng tới quan niệm con người là người làm chủ vận mệnh đất nước, con người và thế giới. Với quan niệm này, văn học của chúng ta trong nhiều thập kỷ chủ yếu được đại diện bởi những người lạc quan và những người, dù phải đối mặt với vô số khó khăn, cuối cùng vẫn nhất định phải chiến thắng. Những người này luôn quên mình vì sự nghiệp chung, quên mình vì sự nghiệp lớn lao, quên mình vì tập thể. Họ là tập thể những con người đầy ý chí, nghị lực và niềm tin, quan tâm đến quê hương, con người và lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Nhìn chung, các nhân vật trong tiểu luận kháng chiến, tiểu luận xây dựng xã hội chủ nghĩa cũng không ngoại lệ. Xuất phát từ xu hướng tập trung vào cá nhân, nhiều nhà văn đã làm rõ hơn khái niệm này trong văn xuôi của những người sinh sau 1975. Trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, người ta thấy sự sám hối của con người, sự thức tỉnh của con người, sự chấp nhận của con người, đầy những suy nghĩ đau thương. Người cô đơn, khốn khổ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiêm. Các nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Lễ vừa có mặt anh hùng vừa có mặt đáng khinh... Những giọng điệu tương phản này tạo cho văn xuôi thế hệ sau 75 một diện mạo đa diện và hấp dẫn. Nếu có những khái niệm rõ ràng về kẻ tốt và kẻ xấu trong văn xuôi sử thi thì ở giai đoạn này con người được nhìn nhận một cách đa diện. Một người từng được coi là anh hùng có thể trở thành kẻ hiếp dâm trong một phút để rồi dành cả đời hối hận và dằn vặt về sai lầm đó (Đò ơi - Nguyễn Quang Lập). Trương Chí khao khát một bản tình ca nhưng lại phải hát một bài ca ngợi danh lợi giàu có với nhiều người, rồi cuối bài hát là lúc phải thề thốt (Trương Chí - Nguyễn Huy Thiệp).

Hiểu một cách khái quát, cảm quan nghệ thuật của văn xuôi Việt Nam sau 1975 chính là những yếu tố nghệ thuật, phong cách và nội dung mà các tác giả sử dụng để tạo nên những tác phẩm có giá trị, phản ánh hiện thực xã hội và tâm tư con người trong giai đoạn lịch sử đầy biến động này .Tính hiện thực phê phán được các tác giả sử dụng văn xuôi để phê phán những bất cập, bất công trong xã hội, từ đó phản ánh những khó khăn, thử thách mà con người phải đối mặt. Điều này giúp người đọc nhận thức rõ hơn về thực trạng xã hội và những vấn đề cần giải quyết.

Khám phá nội tâm và tâm lý nhân vậtgiúp các phẩm tập trung khai thác sâu sắc tâm lý và nội tâm của các nhân vật, giúp người đọc cảm nhận được những cảm xúc, suy nghĩ phức tạp của họ. Điều này tạo nên sự đồng cảm và hiểu biết sâu sắc hơn về con người và cuộc sống.Văn xuôi sau 1975 thể hiện sự đa dạng về phong cách và kỹ thuật viết, từ hiện thực phê phán đến hiện thực huyền ảo, từ lối kể chuyện truyền thống đến cách tân nghệ thuật. Sự đa dạng này mang đến cho người đọc nhiều góc nhìn và cảm nhận khác nhau về cuộc sống và xã hội. Các tác giả sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, biểu cảm, giúp tác phẩm trở nên sống động và hấp dẫn. Ngôn ngữ không chỉ là công cụ truyền tải nội dung mà còn là yếu tố nghệ thuật quan trọng, tạo nên nét đặc sắc riêng cho từng tác phẩm. Văn xuôi sau 1975 không chỉ tập trung vào chủ đề chiến tranh và hậu chiến mà còn mở rộng ra nhiều khía cạnh khác của cuộc sống như tình yêu, gia đình, sự biến đổi xã hội, và những vấn đề đạo đức, nhân sinh. Nhiều tác phẩm mang đậm tính tự truyện, thể hiện cái tôi cá nhân của tác giả. Các câu chuyện không chỉ dựa trên tưởng tượng mà còn gắn liền với trải nghiệm và suy tư cá nhân, tạo nên sự chân thực và gần gũi.Những đặc điểm này đã tạo nên sự phong phú và đa dạng cho văn xuôi Việt Nam sau 1975, góp phần làm giàu thêm nền văn học nước nhà.

Tác giả: Nguyễn Hà An Na 

Cuộc gặp gỡ văn học giữa các nhà văn miền Bắc và miền Nam sau 1975

Trước 1975, do hoàn cảnh lịch sử chia cắt đất nước, nền văn học Việt Nam phát triển theo hai dòng chảy khác biệt. Miền Bắc gắn liền với văn ...